Phân tích cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến
Đánh giá bài viết

cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong

Bài làm

là nhà thơ tài hoa về nhiều lĩnh vực, nhưng nổi bật hơn cả là khả năng thơ ca. Thơ ông luôn thể hiện một cái tôi hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn. Bài “Tây Tiến” tiêu biểu cho hồn thơ ấy của . Bài thơ thành công về nhiều phương diện, nhưng đặc sắc tổng thể của nó là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của người lính.

Bài thơ được rút trong tập thơ “Mây đầu ô”, được ông viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh, sau khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đoàn quân Tây Tiến ngày nào. Sau in lại năm 1975, bài thơ có tựa đề là “Tây Tiến”.

Bởi cả bài thơ đã bao trùm nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả về đoàn binh Tây Tiến. Nếu như các nhà thơ cùng viết về người lính bằng cảm hứng hiện thực với vẻ đẹp hồn nhiên, chân chất giản dị. Thì Quang Dũng lại tạc vào thời gian, vào lịch sử dân tộc hình tượng người lính có một không hai bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn trong văn học là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, hướng về lí tưởng. Nó đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường quen thuộc của đời sống hàng ngày, nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng. Tinh thần bi tráng trong văn học thể hiện ở việc không né tránh hiện thực, miêu tả cái gian khổ và đau thương ở hiện tại mà không hề né tránh. Cái bi ở đây không phải là cái lụy, mà chính xác là cái bi tráng và hào hùng. Là cái chết nhưng mà là cái chết vĩnh hằng đi vào cõi bất tử. Cái bi hùng này còn được thể hiện ở âm hưởng, màu sắc và giọng điệu.
Trước hết là vẻ đẹp lãng mạn của hình tượng người lính. Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên khắc nghiệt, dữ dội: vực sâu, dốc cao, đèo thẳm nhưng họ lại thấy thiên nhiên ấy hiện lên thật hùng vĩ nên thơ:

  • “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
  • Mường Lát hoa về trong đêm hơi
  • Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
  • Heo hút cồn mây súng ngửi trời
  • Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
  • Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Sài Khao rồi Mường Lát hiện lên trong “sương lấp”, “đêm hơi” vừa như thực như mộng. Đèo cao, đường hành quân quanh co. Thiên nhiên vừa là chướng ngại, vừa là để thưởng thức. Các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” kết hợp các điệp từ “dốc”, điệp ngữ “ngàn thước”, phép tương phản “lên cao” – “xuống” càng làm cho bức tranh thiên nhiên Tây Bắc thêm hùng vĩ, tráng lệ. Có thể hình dung địa hình Tây Bắc toàn dốc núi quanh co, điệp trùng, hết lên cao rồi lại xuống thấp, một bên là dốc đá dựng đứng hiểm trở, một bên là vực sâu hun hút, nhìn xuống hay nhìn lên đều rợn ngợp đến chóng mặt. Qua dốc cao, vực sâu là mưa rừng:

  • “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Xem thêm:  Tả quả chuối lớp 5 hay nhất

Thiên nhiên nên thơ, trữ tình. rừng hiếm hoi như trải dài hút tầm mắt tạo nên cảnh tượng “mưa xa khơi” bồng bềnh, ảo mộng. Câu thơ dệt nên bởi những thanh bằng gợi sự yên ả, nhẹ nhàng. Đặc biệt đoạn thơ:

  • “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
  • Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
  • Có nhớ dáng người trên độc mộc
  • Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Tất cả gợi nhớ Châu Mộc trong một cảnh chiều sương phủ trên dòng nước mênh mông, hoang dại thật huyền ảo. Cảnh vật thấm đẫm hồn thơ. Chữ “ấy” ở câu trên cùng chữ “thấy” ở câu dưới bắt thành một vần lưng giàu âm điệu. Hồn lau lay động trong gió mang nét lưu luyến của buổi chia ly. Nổi bật trên dòng nước là nét uyển chuyển thanh tú trên thuyền độc mộc của các cô gái Tây Bắc. Hình ảnh “hoa đong đưa” vừa là hình ảnh tả thực, vừa như ẩn dụ gợi tả vẻ đẹp của các cô gái Tây Bắc. Đó là những vần thơ thi trung hữu họa, khiến người đọc như lạc vào cõi mộng. Vượt qua bao gian khổ, hi sinh, mất mát, tâm hồn người lính thăng hoa, bay bổng trong đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân:

  • “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
  • Kìa em xiêm áo tự bao giờ
  • Khèn lên man điệu buồn e ấp
  • Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của ngọn lửa đuốc trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng Tây Bắc xúng xính những bộ xiêm áo lộng lẫy vừa e thẹn, vừa tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến. Trong gian khổ, thiếu thốn, mất mát hi sinh, tâm hồn người lính vẫn lạc quan, vẫn mộng mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm”:

  • “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
  • Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Lối diễn đạt này có vẻ cầu kì nhưng phù hợp với tâm hồn những người lính trẻ thủ đô xa người yêu đi kháng chiến. Nhớ về các cô gái Hà thành, bóng dáng những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều thơ mộng không hề phai nhạt trong tâm hồn những người lính ngay cả trong khói lửa chiến tranh. Lãng mạn đó là vẻ đẹp lạc quan, yêu đời của những người lính xuất thân từ thành thị đi kháng chiến Cùng với cảm hứng lãng mạn, là tinh thần bi tráng rất Tây Tiến. Trong gian khổ, người chiến sĩ Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất. Trên nền thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc bi tráng, phi thường:

  • “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
  • Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Xem thêm:  Hãy viết một bài báo tường để khuyên một số bạn trong lớp cần phải học tập chăm chỉ hơn

Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường hay đề cập đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài thơ “” đã trực tiếp miêu tả căn bệnh này:

  • “Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
  • Rét run người vầng trán ướt mồ hôi”

Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng không hề che giấu khó khăn và sự hi sinh lớn lao của người lính. Đoàn quân trông thật kì dị: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Đó là nguyên do của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa như tàu lá. Đối lập với ngoại hình ốm yếu là tinh thần đầy mạnh mẽ, dũng mãnh. Cách nói “không mọc tóc” là để tả cái ngang tàng của người lính, họ vẫn lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ. Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, hiên ngang. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình thế, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp đổ mọi gian khổ. Họ vượt lên trên hoàn cảnh hi sinh, mất mát, gian khổ bằng cao đẹp: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”:

  • “Rải rác biên cương mồ viễn xứ
  • Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Cảm hứng cuả ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh của những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng. Mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì tổ quốc của những người lính Tây Tiến. Sự hi sinh của người lính cũng được bao bọc trong một không khí hoành tráng, trang nghiêm mà thanh thản:

  • “Áo bào thay chiếu anh về đất
  • Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Xem thêm:  Đề 27: Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê – Bài văn chọn lọc lớp 9

Coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy Quang Dũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với , với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mã, chứng nhân của lịch sử, bạn đồng hành của Tây Tiến, cũng nhỏ dòng lệ cảm thương lay động cả đất trời, đã gầm lên “khúc độc hành” khúc tráng ca bi hùng rực rỡ nét sử thi. Tiếng gầm ấy là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc thiêng tiễn đưa người lính về với nơi an nghỉ cuối cùng. Có lúc sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người:

  • “Anh bạn dãi dầu không bước nữa
  • Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Hai chữ “dãi dầu” ta đọc thấy có biết bao niềm xót xa, thương cảm, vô bờ bến. Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng bao trùm bài thơ làm nên vẻ đẹp riêng cho Tây Tiến. Ở đây có sự gặp gỡ giữa hồn thơ lãng mạn, hào hùng của thi nhân cùng nhân vật trữ tình là những người lính Tây Tiến.

Như vậy, cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau làm nên linh hồn bất diệt của bài thơ. Tiếng thơ đầy bi tráng cùng với hồn thơ cực lãng mạn hào hoa của Quang Dũng đã kịp ghi lại và giữ cho đời một khung cảnh chiến trường đã đi vào lịch sử, một tượng đài bất tử bằng thơ về người lính vô danh ưu tú của dân tộc mà người đọc muôn đời yêu quý, tự hào.